Tin tức

Núi Bạch Mã Huế

đăng 16:39, 3 thg 12, 2014 bởi Du Lich Da Nang   [ đã cập nhật 02:54, 20 thg 6, 2017 ]

Núi Bạch Mã (Huế) - Bạch Mã là phần cuối của dãy Trường Sơn và là trung tâm của dải rừng xanh tự nhiên còn lại duy nhất của Việt Nam kéo dài từ biển Đông đến biên giới Việt Lào, cách Huế 40 km về phía Nam

Bạn sẽ lên núi Bạch Mã bằng một trong hai cách: đi bộ hoặc đi xe hơi (dưới 24 chỗ) trên con đường nhỏ, hẹp, dài 20 km. Quả thật, nếu được phép phóng xe máy phân khối lớn tự mình chinh phục đỉnh núi cao 1.450 m này thì thật là thú vị, nhưng thật tiếc, điều đó đã bị cấm vì để bảo đảm an toàn cho du khách và không gây ô nhiễm môi trường.
Những biệt thự vừa được trùng tu, tôn tạo lại sẽ dành cho bạn một phòng ngủ đầy đủ tiện nghi. Ở trên đỉnh núi, bạn nhớ thức dậy thật sớm để có thể ngắm một bình minh rực rỡ với hình ảnh mặt trời, mây, gió và cỏ lau...


Núi Bạch Mã Huế



Đến núi Bạch Mã, bạn nhớ lần theo một chuỗi các đường mòn độc đáo chỉ dành cho những người yêu thích thiên nhiên hoang dã. Bạn có thể mất ít nhất một ngày để khám phá cho mỗi đường mòn mà không cần bất kỳ một thiết bị leo núi đặc biệt nào. Chỉ cần một đôi giày thể thao, tất vớ chống vắt và quan trọng là bạn có thích khám phá không… 

nui bach ma


Đó là các tuyến Đường mòn Trĩ Sao (dẫn bạn đến thác Trĩ Sao, ở đấy có rất nhiều chim trĩ sao đang sinh sống). Đường mòn thác Đỗ Quyên (dẫn đến đỉnh của thác Đỗ Quyên cao 300 m - nơi có rất nhiều hoa đỗ quyên nở vào tháng 3 và tháng 4). Đường mòn thác Ngũ Hồ (5 hồ nước trong xanh duyên dáng sẽ chờ đón bạn tắm mát trong những trưa hè). Đường mòn Hải Vọng Đài (cuối con đường này bạn đã ở độ cao 1.450 m. Từ đây bạn có thể nhìn thấy cảnh quan bao la hùng vĩ của các dãy núi nối tiếp ra tận biển Đông. Đây là đường mòn được yêu thích nhất tại núi Bạch Mã, đặc biệt với nhiều biệt thự đỗ nát - bằng chứng của một thời du lịch vàng son nơi đây).

Núi Bạch Mã Huế


Khí hậu của núi Bạch Mã rất đặc biệt. Nhiệt độ ở đây luôn thấp hơn 7-10 độ C so với những vùng lân cận. Đây cũng là một trong những vùng đất ẩm ướt nhất ở Việt Nam với lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 8.000 mm. Chính điều đó đã tạo nên thế giới sinh học phong phú và đa dạng của núi Bạch Mã với 2.147 loài thực vật và 1.493 loài động vật, trong đó có 27 loài thực vật và 66 loài động vật có tên trong sách đỏ Việt Nam.


Núi Bạch Mã


Đường lên Đỉnh Núi Bạch Mã





Thác Đỗ quyên Bạch Mã Huế









Kinh Thành Huế

đăng 21:27, 26 thg 1, 2014 bởi Vinh Cong   [ cập nhật 00:29, 19 thg 6, 2017 bởi Du Lich Da Nang ]

Vị trí: Kinh thành Huế nằm ở bờ bắc sông Hương và thuộc địa phận Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Đặc điểm: Kinh thành Huế được xây dựng theo kiến trúc của phương Tây kết hợp một cách tài tình với kiến trúc thành quách phương Đông.

kinh thành huế


Huế từ xa xưa đã được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của xứ "Ðàng Trong" và chính thức trở thành kinh đô dưới triều Tây Sơn. Trong gần 4 thế kỷ, Huế đã trở thành một quần thể di tích kiến trúc và thắng cảnh vĩ đại, tổng thể di tích này đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.

Kinh Thành Huế


Kinh thành Huế - tổng thể kiến trúc của Cố đô Huế được xây dựng trên một mặt bằng diện tích hơn 500ha và được giới hạn bởi 3 vòng thành theo thứ tự ngoài lớn, trong nhỏ: Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành.

Kinh Thành Huế


Tổng thể kiến trúc này dùng núi Ngự Bình làm tiền án và dùng hai hòn đảo nhỏ trên sông Hương là Cồn Hến và Dã Viên làm 2 yếu tố phong thuỷ rồng chầu hổ phục (Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ) để bảo vệ Cố đô.

Súng Thần Công


Kinh Thành Huế: Do vua Gia Long xây dựng từ năm 1805 và sau này được vua Minh Mạng tiếp tục hoàn thành vào năm 1832. Tại đó các vua triều Nguyễn đã cho xây dựng khá nhiều thành quách, cung điện và các công trình của hoàng gia. Trải qua gần 200 năm khu kinh thành hiện nay còn hầu như nguyên vẹn với gần 140 công trình xây dựng lớn nhỏ.

Kinh Thành Huế


Kinh thành hình vuông với chu vi 10km, cao 6,6m, dày 21m, gồm có 10 cửa để ra vào. Xung quanh và ngay trên thành có thiết lập 24 pháo đài để phòng thủ. Ngoài ra còn có một cửa phụ thông với Trấn Bình Ðài gọi là Thái Bình Môn.

Kinh Thành Huế


Hoàng Thành (Ðại Nội): Nằm ở khoảng giữa kinh thành là nơi đặt các cơ quan cao nhất của chế độ quân chủ và là nơi thờ tự các vua chúa đã quá cố. Hoàng Thành có mặt bằng gần vuông, mỗi bề khoảng 600m, xây bằng gạch, cao 4m, dày 1m, xung quanh có hào bảo vệ, có 4 cửa để ra vào, riêng Ngọ Môn chỉ dành để cho vua đi. Ðại Nội gồm có hơn 100 công trình kiến trúc đẹp được chia ra nhiều khu vực:

Từ Ngọ Môn đến Điện Thái Hoà: nơi cử hành các lễ lớn của triều đình.

Hồ Bán Nguyệt


Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu và Điện Phụng Tiên: nơi thờ các vua chúa nhà Nguyễn.



Phủ Nội Vụ: nhà kho tàng trữ đồ quý, xưởng chế tạo đồ dùng cho hoàng gia.



Vườn Cơ Hạ và Điện Khâm Văn: nơi các hoàng tử học tập và chơi đùa.

Tử Cấm Thành: là vòng thành nằm trong Hoàng Thành ngay sau lưng Điện Thái Hoà. Tử Cấm Thành dành riêng cho vua và gia đình vua. Tử Cấm Thành được xây dựng năm 1804. Thành cao 3,72m xây bằng gạch, dày 0,72m, chu vi khoảng 1.230m, phía trước và phía sau dài 324m, trái và phải hơn 290m, bao gồm gần 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ và có 7 cửa ra vào. Ðại Cung Môn là cửa chính ở mặt tiền chỉ dành cho vua đi vào. Cần Chánh (nơi vua làm việc hàng ngày). Càn Thành (nơi vua ở), Cung Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý Phi). Duyệt Thị Ðường (nhà hát), Thượng Thiện (nơi nấu ăn cho vua), Thái Bình Lâu (nơi vua đọc sách)…

Ngoài ra Huế còn nổi tiếng bởi khu lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn. Bảy lăng, mỗi lăng mang một sắc thái riêng nhưng đều là những kỳ công tạo tác của con người phối hợp với cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ tươi đẹp và thơ mộng của xứ Huế.

Cố đô Huế với sông Hương, núi Ngự và các cung điện lâu đài, lăng tẩm, đền, miếu, chùa chiền đã có hàng mấy trăm năm lịch sử giờ đây đang được nhân dân Việt Nam cùng cộng đồng Quốc tế đóng góp công sức và tiền của để tôn tạo tu bổ giữ cho kiến trúc cố đô Huế mãi mãi là di sản văn hoá của nhân loại.

Thiền Viện Trúc Lâm Bạch Mã

đăng 18:24, 29 thg 11, 2013 bởi Vinh Cong   [ cập nhật 02:44, 20 thg 6, 2017 bởi Du Lich Da Nang ]

Thiền Viện Trúc Lâm Bạch Mã - Thành phố Huế xuôi về Nam khoảng 30km, sẽ gặp cầu Truồi. Bên phải, men theo dòng sông thấp thoáng dưới lũy tre làng thơ mộng, là đường dẫn vào Đập Truồi


Thiền Viên Trúc Lâm Bạch Mã Huế




Thiền Viện Trúc Lâm Bạch Mã





Qua khúc quanh, ta gặp vùng đất khô cằn, xóm làng thưa thớt. Thỉnh thoảng lại xuất hiện những vùng đất đỏ toàn mồ mã, cứ như không còn sự sống. Nhưng không.

Núi mòn, biển cạn ngờ hết lối

Liễu biếc, hoa tươi riêng một thôn

Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ,

Liễu ám hoa minh biệt nhất thôn.

Vượt hết dốc thoải bên lưng đồi, một bức tranh thủy mặc sinh động bất ngờ hiện ra trước mắt : Núi núi chập chùng, ngọn mờ, ngọn tỏ như có như không soi mình trong gương nước. Muôn chim đua hót, hòa cùng suối reo giữa đất trời thênh thang. Con người như bị thu nhỏ, tan biến vào cõi thênh không vô tận.

Thiền viện Trúc Lâm ẩn hiện giữa mênh mang trời nước


Nằm giữa hai miền đất nước, nơi mảnh đất Thần Kinh, Bạch Mã hiển hiện trầm hùng, kỳ vỹ mà ôn hòa, như mang cái mát lành của cao nguyên Đà Lạt về trên xứ Huế. Cuối dãy Bạch Hổ là mỏm núi Lưỡi Cái. Cuối dãy Thanh Long là đỉnh núi Truồi, lấy ngọn Trì Giang làm Án Sơn. Quả đồi nơi thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã tọa lạc hiện lên giữa lòng Hồ Truồi như một đóa hoa, gối đầu vào núi rừng Bạch Mã trải dài đến hút mắt, có Long chầu Hổ cứ, có thủy bảo sơn bao.




Ở độ cao 1450m, cách biển đông 5km đường chim bay, nên ta có thể thưởng thức cả hai luồng gió của hai lục địa và biển đông. Nhiệt độ thường từ 19 oC đến 21oC. Bạch Mã được xem là một trong những vùng có khí hậu lý tưởng. Vì là cái rốn giữa Trường Sơn, giao lưu giữa hai miền Nam - Bắc, nên nguồn động vật và thực vật ở đây rất phong phú. Cảnh sắc lại không kém phần ngoạn mục. Mây trắng phủ đầu non, khi thì trầm mặc, lúc lại bồng bềnh, khi thì thong dong tự tại. Đứng từ độn Trì Giang hay từ cầu Lương Điền, hoặc nhìn từ Ngự Bình Huế, mây trắng lửng lờ có dáng như hình con ngựa hiện rõ. Vì thế mà gọi Bạch Mã. Với người Tây phương, Bạch Mã được xem như là mặt trời.



Chư Tôn đức Tăng, Ni dưới gác chuông Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã. Ảnh: TL

Năm 1932, một kỹ sư Công Chánh người Pháp Gacques Girard đã khám phá núi Truồi và tiến dần lên vùng Bạch Mã.

Năm 1945, thành phố Bạch Mã được xây dựng gần hoàn chỉnh với 139 ngôi biệt thự. Nơi ấy có chợ, bưu điện, bệnh viện v.v…

Sau, do chiến tranh thành phố bị tàn phá, Bạch Mã tưởng chừng đã ngủ yên trong lòng dân Huế. Nhưng Bạch Mã đã hồi sinh trở lại. Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã - ngôi thiền viện đầu tiên được xây dựng ở miền Trung, thuộc thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do Hòa Thượng Tôn Sư Thượng Thanh Hạ Từ sáng lập - đã chính thức cử hành Lễ Đặt Đá, khởi công xây dựng vào ngày 30/3/2006 (nhằm ngày mùng 2 tháng 3 n ăm Bính Tuất), là ngày giỗ Đệ nhị Tổ thiền phái Trúc Lâm.





Từ trên đỉnh đồi chùa Trúc Lâm phóng tầm mắt nhìn xuống hồ Truồi bao la mát rượi như xua tan đi bao cực nhọc trong cỏi lòng.



Ngày nay, thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã trang nghiêm đang sừng sững giữa núi rừng Bạch Mã, sống động giữa lòng hồ Truồi. Như dòng thiền Trúc Lâm đang sống dậy trong lòng người dân xứ Huế. Hồn thiên Yên tử hay suối thiền Trúc Lâm như đang hòa quyện, tuôn trào cho linh hồn Bạch Mã càng thêm sống động.

Một số hình ảnh TV Trúc Lâm Bạch Mã






Toàn cảnh TV Trúc Lâm Bạch Mã




Lối vào TV Bạch Mã



Cổng tam quan nhìn từ phía trong



Chánh điện



Tượng Bổn Sư



Tổ đường



Tháp Chuông



Thất Sư Ông



Sư Ông về dự an vị Phật TV Bạch Mã



Sư Ông về dự an vị Phật TV Bạch Mã



Chùa Từ Đàm

đăng 05:09, 19 thg 11, 2013 bởi Vinh Cong   [ cập nhật 00:36, 19 thg 6, 2017 bởi Du Lich Da Nang ]

Chùa Từ Đàm tọa lạc ở số 01 đường Sư Liễu Quán, phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Mặt chùa hướng Đông Nam. Bên trái chùa, có chùa Linh Quang và đền thờ cụ Phan Bội Châu.

Thiền thất được ngài Minh Hoằng - Tử Dung, vị Thiền sư Trung Hoa dựng vào cuối thế kỷ XVII (khoảng năm 1690) vào đời chúa Nguyễn Phúc Thái, tại Hoàng Long Sơn, đặt tên là Ấn Tôn với ý nghĩa lấy sự truyền tâm làm tông chỉ. Năm 1703, chúa Nguyễn Phúc Chu sắc phong cho chùa là Sắc tứ Ấn Tôn Tự. Đến năm 1841, vua Thiệu Trị sắc chỉ đổi tên “Từ Đàm Tự” tức đám mây lành, tượng trưng cho đức Phật, cho ngôi chùa Việt Nam.

Năm 1699, ngài Liễu Quán đã đến cầu học tham thiền với Thiền sư Minh Hoằng - Tử Dung. Ngài đã trình kệ "Dục Phật" (tắm Phật) được Tổ ấn khả, truyền tâm ấn trong kỳ an cư kiết hạ năm Nhâm Thìn (1712).

Từ một ngôi chùa cổ kính của Thiền phái Lâm Tế, chùa Từ Đàm được xây dựng làm chùa Hội quán Tỉnh hội Phật giáo. Từ những năm 1920, phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam được phát triển ở cả ba miền. Tại Huế, An Nam Phật học hội thành lập vào năm 1932 do các vị cao tăng thạc đức, cư sĩ lãnh đạo như các ngài Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết, bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, cụ Nguyễn Khoa Tân, cụ Nguyễn Đình Hòa … Năm 1936, chư sơn môn đồng thuận giao chùa cho Hội để làm nơi thờ phụng và làm trụ sở của Hội. Ngày 18-12-1938, Tỉnh hội Phật học Thừa Thiên đã xây chùa Hội quán trên nền cũ chùa Từ Đàm, giảng đường, nhà tăng và một số căn nhà làm việc của Tỉnh hội.

Ngôi chùa cũ có nhà tiền đường, mái ngói, ba gian, rộng 7,4m, dài 18m. Gian trong cùng thờ tượng đức Phật Thích Ca ngự trên tòa sen, tay bắt ấn Tam muội. Tượng bằng đồng, cao khoảng 1,30m, do hai ông Nguyễn Khoa Toàn và Nguyễn Hữu Tuân thực hiện năm 1940. Hai bên tượng treo hai tràng phan, một bên đề danh hiệu 7 đức Phật ở Ta Bà, một bên đề danh hiệu 7 đức Phật ở Tịnh Độ. Trên vòng cung trước bàn thờ treo tấm hoành sơn son thếp vàng giữa có ba chữ Hán “Ấn Tôn Tự”, phía trái có mấy chữ Thiên Vận Quý Mùi (1703) Sơ Xuân Cát Đán. Đối diện bức hoành trên là một bức hoành giữa đề bốn chữ “Huệ Nhật Trung Thiên”.

Cổng tam quan chùa được xây dựng năm 1965, phía trong là cội Bồ đề.

Cây Bồ đề này có nguồn từ cây Bồ đề chính tại Ấn Độ, nơi đức Phật Thích Ca thành đạo quả vô thượng giác, đã được nhà sư Mahinda (nguyên thái tử, con vua A Dục) đem giống sang trồng tại Srilanca (Tích Lan) khi qua truyền đạo tại đây vào thế kỷ III trước Tây Lịch. Trưởng lão Narada, người Tích Lan, lấy giống từ cây Bồ đề ở Tích Lan cùng bà Karpelès trong phái đoàn Phật giáo Campuchia tặng Hội Phật học Trung phần và trồng tại đây trong dịp sang thăm Huế năm 1939.

Năm 1951, chùa là nơi tổ chức Hội nghị 51 đại biểu của 6 tập đoàn Tăng già và Cư sĩ ở 3 miền thành lập Hội Phật giáo Việt Nam và phê chuẩn việc Hòa thượng Tố Liên thay mặt Hội Phật giáo Việt Nam ký tên gia nhập Hội Phật giáo thế giới. Bài hát nổi tiếng "Từ Đàm quê hương tôi" của Nguyên Thông đã có nói đến sự kiện quan trọng này : "Ôi ! anh linh bóng chùa Từ Đàm, nơi Bắc Nam nối nguồn Đạo Vàng ... Từ Đàm ơi ! "

Trong bài viết "Vai trò và vị trí chùa Từ Đàm đối với Phật giáo xứ Huế và miền Trung", Tỳ kheo Thích Hải Ấn cho biết từ năm 1940 ở Huế đã có Ban Đồng Ấu rồi có Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục của bác sĩ Lê Đình Thám lập ra, tụ hôi được nhiều phần tử trí thức tân học thời đó để dạy Phật pháp cho họ. Năm 1943, Gia đình Phật Hóa Phổ ra đời, đến năm 1951, đổi thành Gia đình Phật tử, đặt trụ sở tại chùa Từ Đàm và lan rộng tới cả miền Bắc và miền Nam.

Ngày 04-7-2006, chùa đã tổ chức tái thiết ngôi chánh điện với chiều dài 42m, chiều ngang 35,9m gồm hai phần, dưới là tầng hầm dùng làm hội trường, trên là ngôi chánh điện, kiến trúc theo mô hình trùng thiềm điệp ốc, ba gian hai chái, kiểu kiến trúc truyền thống của chùa Huế. Đại lễ An vị Phật đã được tổ chức trọng thể vào ngày 24-12-2007 (ngày rằm tháng 11 năm Đinh Hợi).

Chùa Từ Đàm ngày nay là một ngôi già lam tráng lệ. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chính giữa thờ tượng đức Phật Thích Ca, hai bên có phù điêu hai vị Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền. Chùa có nhiều hoành phi và câu đối. Xin trích 3 cặp đối do Tỳ kheo trụ trì Thích Hải Ấn ghi lại và dịch nghĩa :

1. Trước hiên chùa, cặp đối do bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám soạn :Phật chính biến tri, vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức.
Học chân thật nghĩa, như thị văn, như thị tư, như thị tu trì.


Nghĩa:

Phật là bậc Chánh Biến tri, Vô lượng thọ, Vô lượng quang, Vô lượng công đức.
Học theo nghĩa chân thật, nghe như vậy, tư như vậy, tu trì như vậy.

2. Trước hiên chùa, cặp đối do cụ Phan Bội Châu tặng :

Bát-nhã bổn vô ngôn, ly tứ cú, tuyệt bách phi, ứng hóa tùy duyên thuyết vô lượng vô biên diệu pháp;

Bồ-đề tiên hữu nguyện, chứng tam minh, cụ ngũ nhãn, câu viên phước quả thành đại hùng đại lực từ tôn.

Nghĩa: Bát-nhã vốn không lời, rời bốn vế, trừ trăm không, ứng hóa tùy duyên, giảng diệu pháp vô lượng, vô biên;

Bồ-đề cần có nguyện, chứng tam minh, đủ năm mắt, tựu thành quả phúc, thành từ tôn đại hùng, đại lực.



3. Trong điện Phật, cặp đối của cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu soạn :



Bát-nhã bổn vô ngôn, ly tứ cú, tuyệt bách phi, ứng hóa tùy duyên thuyết vô lượng vô biên diệu pháp;

Bồ-đề tiên hữu nguyện, chứng tam minh, cụ ngũ nhãn, câu viên phước quả thành đại hùng đại lực từ tôn.

Nghĩa:



Bát-nhã vốn không lời, rời bốn vế, trừ trăm không, ứng hóa tùy duyên, giảng diệu pháp vô lượng, vô biên;

Bồ-đề cần có nguyện, chứng tam minh, đủ năm mắt, tựu thành quả phúc, thành từ tôn đại hùng, đại lực.

Chùa hiện đặt Văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên Huế. Những ngày đại lễ của Phật giáo hằng năm như kỷ niệm ngày Phật đản, lễ Vu Lan, lễ Phật Thành đạo ... và nhiều hoạt động Phật sự khác ở Huế đều được tổ chức trọng thể tại chùa.

Nhân ngày vía đức Thích Ca xuất gia 08-02 Mậu Tý (2008), Ban Trị sự Phật giáo tỉnh đã tổ chức Giới đàn Từ Đàm do Hòa thượng Thích Đức Phương làm Đàn đầu Hòa thượng truyền trao giới pháp cho giới tử xuất gia : Sa di (112 giới tử), Sa di ni (65 giới tử), Thức xoa (77 giới tử); giới tử tại gia có 620 giới tử Thập thiện và 70 giới tử thọ Bồ tát giới.

Báo Giác Ngộ online và nhiều website thường xuyên thông tin những hoat động ở chùa như : Ngày 29-5-2007, gần 200 Tăng Ni của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế và đoàn sinh gia đình Phật tử Huế đã tham gia hiến máu nhân đạo; từ ngày 01 đến ngày 07-3-2008, lần đầu tiên, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh và tạp chí Văn hóa Phật giáo phối hợp tổ chức Tuần Văn hóa Phật giáo với nhiều hoạt động văn hóa và sinh hoạt trao đổi tri thức diễn ra liên tục trong một tuần lễ tại chùa v.v...

Chùa thường xuyên đón tiếp chư vị Tôn đức lãnh đạo Phật giáo các nước, chư vị học giả, trí thức và nhiều đoàn du khách, Phật tử trong nước, nước ngoài đến thăm, lễ Phật.



Cổng tam quan



Chùa Từ Đàm (xưa) trước khi xây mới



Mặt tiền chùa Từ Đàm xưa



Điện Phật chùa Từ Đàm xưa



Chùa Từ Đàm (xây dựng vào năm 2007)



Mặt tiền chùa Từ Đàm




Điện Phật





Phù điêu Bồ tát Văn Thù



Phù điêu Bồ tát Phổ Hiền



Tổ đường



Đại hồng chung



Trang trí nóc chùa



Lễ đài Phật đản



Tượng bán thân cố bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám



Ảnh cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu




Cây Bồ đề

Lăng Khải Định

đăng 19:37, 10 thg 11, 2013 bởi Vinh Cong   [ cập nhật 00:54, 19 thg 6, 2017 bởi Du Lich Da Nang ]

Câu chuyện về lối sống xa hoa của vua Khải Định vẫn còn gây tò mò cho hậu thế. Đến nỗi, chỉ cần ngắm lăng Khải Định ở Huế, ta cũng phần nào thấy được lối sống của vị vua này.

So với các công trình lăng tẩm ở Huế thì lăng Khải Định có diện tích khá nhỏ nhưng thời gian để hoàn thành công trình này lại lâu nhất, lên tới 11 năm và tốn nhiều công sức tiền của nhất.

Đây là nơi yên nghỉ của vị hoàng đế thứ 12 của triều Nguyễn - Khải Định (1885 -1925). Có thể nói công trình phản ánh rõ nét tính cách xa hoa, thích chưng diện của vua Khải Định lúc sinh thời.




Lăng Khải Định uy nghi như một tòa lâu đài ở châu Âu

Cái khác biệt lớn nhất của lăng Khải Định với các lăng tẩm khác ở Huế chính là những công trình mang dấu ấn của nhiều trường phái kiến trúc khác nhau, đặc biệt là ảnh hưởng lớn của kiến trúc Phương Tây. Có lẽ chính vì vậy mà lăng Khải Định có cái lạ, có phần ngông nghênh, phô trương và độc đáo so với các công trình kiến trúc truyền thống của Việt Nam.



Công trình hòa trộn kiến trúc kim cổ xây bê tông cốt thép, bên trong có bia đá.

Lăng Khải Định thuộc xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm cách thành phố Huế 10km. Để ghé thăm nơi này, bạn có thể đi bằng đường bộ hoặc đi thuyền trên sông Hương. Ban đầu bạn sẽ không khỏi choáng ngợp khi đứng trước một công trình mà tổng thể của nó là một khối nổi hình chữ nhật vươn cao tới 127 bậc, bạn sẽ có cảm giác như mình đang đứng ở những công trình thành quách Châu Âu mà đã được xem trong các chương trình du lịch trên truyền hình.

Ra đời trong sự giao thoa văn hóa Đông Tây, những công trình trong lăng Khải Định đều mang những nét kiến trúc châu Âu thế kỷ 19. Bạn sẽ ít thấy các vật liệu truyền thống của dân tộc như gỗ, đá, gạch, vôi mà thay vào đó là những cánh cửa sắt, những cây thánh giá khẳng khiu, những viên gạch caro ngói, hệ thống đèn điện ….

Công trình kiến trúc chính của lăng Khải Định chính là cung Thiên Định. Đây là công trình nằm ở vị trí cao nhất và được xây dựng tinh xảo, công phu nhất. Toàn bộ nội thất trong cung đều được trang trí những phù điêu ghép bằng sành, sứ và thủy tinh.

Và người chịu trách nhiệm chính trong việc kiến tạo những tuyệt tác nghệ thuật trong lăng Khải Định là nghệ nhân Phan Văn Tánh, tác giả của 3 bức bích họa “Cửu long ẩn vân” lớn nhất Việt Nam. Ba tấm phù điêu này được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định. Theo đánh giá của những nhà chuyên môn thì lăng Khải Định thực sự là biểu tượng đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình sành sứ và thủy tinh.




Cung Thiên Định được được trang trí bằng nghệ thuật đắp gốm với các mảnh sành sứ và thủy tinh.




Pho tượng bằng đồng tạc hình vua Khải Định đứng theo tỷ lệ 1:1. Bên trong lăng

Còn có 1 pho tượng bằng đồng tạc hình vua Khải Định ngồi nữa. Có thể nói sự có mặt của tượng vua trong lăng là một điều đặc biệt so với các lăng khác.

Lăng Khải Định đích thực là một công trình có giá trị về mặt nghệ thuật và kiến trúc, góp phần làm phong phú và đa dạng thiên quần thể lăng tẩm ở di sản Huế.

Bãi Biển Cửa Đại

đăng 16:57, 6 thg 11, 2013 bởi Vinh Cong   [ đã cập nhật 01:22, 19 thg 6, 2017 ]

Bãi biển Cửa Đại cách phố cổ Hội An - Quảng Nam khoảng 5km là nơi con sông Thu Bồn đổ ra biển lớn. Bãi biển Cửa Đại được xem là “nét duyên con gái” của mẹ hiền Hội An. Suốt cả ngày lẫn đêm, bãi biển Cửa Đại có một nét đẹp riêng làm đắm lòng khách phương xa…




Một góc bãi biển Cửa Đại Hội An

Rời khỏi phố cổ trầm tư Hội An, đi về phía biển, du khách đến với Cửa Đại trẻ trung, sống động. Nhiều người từng đến Cửa Đại đều nói: “đẹp mê hồn”! Mỗi người một cách diễn tả cảm nhận của mình khi đến vùng biển này nhưng hầu hết đều đồng ý với nhau rằng, đây là vùng biển thơ mộng và hiền hòa…



Bình minh trên biển Cửa Đại


Ấn tượng đầu tiên của vùng biển này là bãi biển cát trắng mịn trải dài. Dọc bãi biển là những resort Hội An cao cấp với nhiều phong cách. Du khách có thể tự do đi lại, tắm biển ở bất kỳ vị trí nào trên bãi biển tùy thích. Giữa khu “đất vàng” này, chính quyền địa phương đã giữ lại một diện tích lớn làm công viên bờ biển và bãi tắm công cộng. Bãi tắm luôn được giữ sạch sẽ. Những người bán hàng rong ở khu vực này cũng ý thức cao việc giữ gìn môi trường, không xả rác bừa bãi. Đến Hội An, Cửa Đại, nhất là Cù Lao Chàm, môi trường rất trong lành, không thấy rác. Vì thế khách châu Âu rất thích đến đây vào những kỳ nghỉ.



Khách du lịch quốc tế rất thích bãi biển Cửa Đại


Biển Cửa Đại nước trong ngần. Cát biển trắng. Dưới ánh nắng, biển càng thêm trong. Những nhà đầu tư resort cao cấp tại đây cho biết họ chọn điểm này vì bãi biển ở đây đẹp. Cửa Đại có nét duyên mà du khách càng khám phá càng thấy hấp dẫn. Hệ thống resort được xây dựng thân thiện với môi trường. Gần như không có nhà cao tầng. Đa số vẫn chọn kiến trúc dân dã làng quê Việt Nam để tô điểm cho nét duyên Cửa Đại. Ban ngày, các công trình kiến trúc chen lẫn dưới những hàng dừa cao vút, e ấp bên những khóm hoa, rặng liễu. Ban đêm, dưới ánh đèn vàng, khu resort trở nên lộng lẫy và quý phái. Hầu hết nhà đầu tư vào đây rất trân trọng thiên nhiên nên sử dụng những chất liệu thân thiện môi trường và gần gũi, hài hòa với thiên nhiên. Bước chân vào những khu resort cao cấp này, du khách cảm thấy nơi đây như một sự kết nối giữa quá khứ với hiện tại, kết nối giữa hồn phố cổ với thiên nhiên bao la của biển cả.



Hàng dừa xanh tại bãi biển Cửa Đại


Bãi biển Cửa Đại ban đêm như một vườn hoa đăng với những ngọn đèn bão của người bán rong. Người dân địa phương tự do buôn bán: hải sản tươi sống, khô mực nướng… giá bình dân, cách resort cao cấp vài bước chân. Người bán hàng rất lịch sự và luôn để sẵn thau, rổ cho khách đựng rác và thu dọn gọn gàng trước khi ra về. Mỗi “bàn” là một chiếc chiếu trải trên cát, bên trên để một, hai ngọn đèn bão để khách ngồi thưởng thức hải sản, ngắm biển đêm. Bạn bè quây quần bên nhau, ăn uống trò chuyện bên bờ biển sóng vỗ rì rào, gió mát rượi… quả thật thú vị. Xa xa, Đà Nẵng sáng rực sắc màu của ánh điện…

Nhiều đôi uyên ương đã chọn Cửa Đại và Hội An để hưởng tuần trăng mật. Đi trên đường, du khách hay nhìn thấy những chiếc xe đạp đôi chạy dọc theo bờ biển rợp bóng dừa xanh mướt. Các doanh nghiệp lữ hành đã khéo léo thiết kế tour trăng mật đến điểm du lịch này, hấp dẫn nhiều du khách. Sống trong sự tiện nghi mà gần gũi của những resort ở Cửa Đại, những đôi trai gái thư thả trải qua những giây phút ngọt ngào bên nhau. Buổi sáng đón bình minh hay buổi chiều ngắm hoàng hôn trên bãi biển thật là tuyệt.

Cửa Đại đã để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng du khách. Có lần, chúng tôi đã chứng kiến cảnh một chàng trai cầu hôn một cô gái dưới ánh trăng ngay tại bãi biển Cửa Đại. Chàng trai thuê hàng chục chiếc đèn bão của những người bán rong xếp thành hình trái tim. Cho cô gái đứng vào giữa trái tim đó, chàng trai quỳ xuống cầu hôn trong sự ngạc nhiên và thích thú của nhiều du khách. Cô gái cảm động đến rơi nước mắt… Biển Cửa Đại đã chứng kiến không biết bao nhiêu mối tình đẹp, chứng giám cho bao nhiêu lời thề của trái tim những người trẻ đang yêu…

Đêm trên biển Cửa Đại có khi nghe lanh lảnh câu hát bài chòi của người dân bản địa, bỗng thấy yêu quá vùng đất này. Bài chòi là một trò chơi văn hóa dân gian của nhiều tỉnh miền Trung nhưng đến nay không còn phổ biến nhiều. Tại Quảng Nam, khi Hội An trở thành đô thị di sản văn hóa, bài chòi trở thành “đặc sản” văn hóa, hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Trước đây, bài chòi thường được đưa vào sinh hoạt văn hóa vào các dịp lễ, Tết. Người ta cất những chòi lá để người chơi ngồi. Bài chòi gồm 10 lá (hoặc thẻ) có vẽ hình ảnh. “Anh hiệu” (tương đương nhà cái) mở đầu bằng câu hiệu: “Gió xuân phảng phất ngọn tre/Hai bên cô bác lắng nghe bài chòi” để mọi người yên vị, bắt đầu cuộc chơi. Anh này mở từng lá bài và “hô” hoặc hát những câu ca dao, dân ca… miễn sao có từ ngữ, hình ảnh liên quan đến hình ảnh trong bài. Khi đó, chòi nào có hình ảnh liên quan thì gõ mõ báo hiệu. Cái tài của “anh hiệu” là hát làm sao để người chơi hồi hộp và phải dùng những câu hát ví von để người chơi liên tưởng với hình ảnh ứng trên bài. Cứ thế, “anh hiệu” hát hoài cho đến khi chòi nào trúng được ba đôi trước thì thắng – được người mang rượu mời và cờ đến cắm trước chòi. Bài chòi đã trở thành nét văn hóa đặc trưng đang được bảo tồn…


Điều đáng tiếc đến cuối năm 2015, Bãi biển Cửa Đại bị sạt lở và xâm thực nghiêm trọng và hiện đang trong giai đoạn tìm cách khắc phục

Đà Nẵng 1 trong 10 điểm đến hấp dẫn nhất châu Á 2013

đăng 00:21, 21 thg 9, 2013 bởi Vinh Cong   [ đã cập nhật 00:41, 21 thg 9, 2013 ]

Độc giả của Tạp chí du lịch trực tuyến hàng đầu châu Á (Tạp chí Smart Travel Asia) đã bầu chọn Đà Nẵng là 1 trong 10 điểm đến hấp dẫn nhất châu Á năm 2013. (Đà Nẵng của Việt Nam đứng xếp vị thứ 7/10). Đây là tin vui cho ngành du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch Đà Nẵng nói riêng, với kết quả bình chọn này du lịch Đà Nẵng sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn nữa vào năm 2014

Kết quả bầu chọn được dựa trên cuộc bình chọn “Những sản phẩm, dịch vụ du lịch tốt nhất năm 2013” do Tạp chí du lịch điện tử Smart Travel Asia tổ chức lấy ý kiến độc giả trong thời gian qua.


Đà Nẵng, một trong 10 điểm đến hấp dẫn nhất châu Á do Smart Travel Asia bầu chọn

Cùng với Đà Nẵng (Việt Nam) đứng thứ 7 trong top 10 điểm đến du lịch hấp dẫn nhất châu Á còn có Hà Nội cùng 2 thành phố khác là Hong Kong và Seoul (Hàn Quốc) cùng giữ vị trí thứ 5.

Ngoài ra, những điểm đến khác nằm trong Top 5 là: Bali (Indonesia), Phuket (Thái Lan), Tokyo (Nhật Bản), Angkor (Siem Reap, Campuchia), thì Bangkok (Thái Lan) là điểm đến hấp dẫn đứng đầu bảng xếp hạng.


Thành phố Đà Nẵng sở hữu một trong 6 bãi biển đẹp nhất hành tinh

Cuộc bình chọn hoàn toàn độc lập, dựa trên ý kiến của đồc giả căn cứ theo 3 yếu tố: Trải nghiệm chất lượng thực tế của sản phẩm du lịch; Thông tin phản hồi từ bạn bè và đồng nghiệp; Sự nổi tiếng của thương hiệu điểm đến trong cộng đồng,…

Trước đó, vào năm 2012, Việt Nam cũng có 2 thành phố là Hà Nội và Hội An lọt vào Top 10 các điểm đến hấp dẫn của Smart Travel Asia.

Mời bạn đọc cùng ngắm thành phố Đà Nẵng, một trong 10 điểm đến hấp dẫn nhất châu Á năm 2013 do Smart Travel Asia bình chọn:


Thành phố Đà Nẵng, 1 trong 10 điểm đến hấp dẫn nhất châu Á

Một thành phố trẻ, năng động đầy sức sống

Nơi đây có những cây cầu xuyên kỷ lục

Không chỉ độc đáo

Thành phố sở hữu một trong sáu bãi biển đẹp nhất hành tinh

với hệ sinh thái dưới nước đa dạng

và thảm thực vật hàng nghìn năm

Nơi đây còn có những chứng tích lịch sử hàng trăm năm tuổi

Không chỉ vậy, Đà Nẵng còn sỡ hữu "thiên đường" ở hạ giới

Cùng tuyến cáp treo phá 4 kỷ lục thế giới

Hay sở hữu những báu vật quốc gia

Nơi đây còn là tâm điểm của nhiều lễ hội quốc tế...

... đến nghệ thuật đường phố

Hay sự kiện thể thao có một không hai ở Việt Nam

Nhưng quan trọng nhất, con người ở đây thân thiện và dung dị

Làng Mộc Kim Bồng

đăng 19:47, 22 thg 7, 2012 bởi Du Lich Da Nang   [ cập nhật 01:33, 19 thg 6, 2017 bởi Vinh Cong ]

Nhắc đến nghề mộc ở Hội An người ta không thể không nhắc đến làng mộc Kim Bồng. Làng mộc Kim Bồng nằm ở xã Cẩm Kim đối diện khu phố cổ Hội An, bên kia bờ con sông Hoài. Nghệ nhân làng mộc Kim Bồng từng tự hào với việc cha ông họ đã được vua chúa nhà Nguyễn mời ra kinh đô xây dựng và tôn tạo các công trình thành quách, lăng tẩm.



Nghề mộc Kim Bồng được hình thành từ thế kỷ 15 bởi những người Việt đầu tiên ở đồng bằng Bắc Bộ và vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh vào khai khẩn vùng đất Cẩm Kim - Hội An thời bấy giờ. Cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17 nghề mộc Kim Bồng bắt đầu phát triển nhờ sự phồn thịnh của thương cảng Hội An. Đến thế kỷ 18, nghề mộc Kim Bồng đã phát triển mạnh mẽ và thịnh đạt thành làng nghề với ba nhóm nghề rõ rệt: nghề mộc xây dựng các công trình kiến trúc đô thị, nghề mộc dân dụng và nghề đóng tàu thuyền mộc.

Ngày nay, dấu ấn mộc Kim Bồng còn thể hiện rõ nét trên các ngôi nhà cổ, ngôi chùa, hội quán, nhà thờ tộc ở Hội An với những đường nét chạm trổ tinh vi, đẹp mắt. Cũng như ngày xưa, mộc Kim Bồng chuyên về xây dựng nhà cửa và đóng tàu. Cùng với sự phát triển du lịch, một bộ phận nghệ nhân mộc Kim Bồng chuyển sang làm mộc mỹ nghệ để phục vụ khách du lịch. Đó là các loại tượng gỗ và đồ dùng phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày.


Các nghệ nhân của làng mộc Kim Bồng

Gỗ để làm tượng trước tiên phải được phơi khô để tránh cho tượng bị nứt nẻ sau này. Sau đó gỗ sẽ được cưa theo hình dáng và kích thước tương ứng với sản phẩm cần làm. Đối với loại tượng có kích thước lớn thì người thợ ghép nhiều khúc gỗ lại với nhau đó là dùng bột gỗ để trít các khe hở. Tiếp theo là giai đoạn tạo dáng. Người thợ dùng đục đẽo để tạo dáng tổng quát của tượng sau đó sẽ đi dần vào các chi tiết như tay chân, mắt, mũi, miệng… Cuối cùng là giai đoạn đánh bóng tượng. Tượng sau khi được đánh bóng trông sẽ đẹp mắt hơn nhờ vào mặt gỗ nhẵn thín sạch sẽ, nổi rõ từng vân gỗ.


Một sản phẩm của làng mộc Kim Bồng

Các nhân vật được tạc tượng thường là một nhân vật thuộc tín ngưỡng dân gian như : Quan công, Phúc Lộc Thọ, Đạt ma sư tổ, Thập bán la hán, Bồ tác Di lặc…

Làng mộc Kim Bồng - một thời bị lãng quên

Sau khi chiến tranh kết thúc, làng mộc Kim Bồng cũng có xu thế kết thúc theo, những người thợ Kim Bồng tản cư đi khắp nơi, họ làm đủ mọi nghề để kiếm sống. Trong họ, niềm say mê với gỗ, với búa, đục… vẫn còn, nhưng nó không duy trì được cuộc sống của họ, nghề mộc dần đi vào lãng quên và chỉ còn trong ký ức. Mộc Kim Bồng một thời vang bóng đã lặng chìm vào giấc ngủ sâu. Ông Đỗ Đình Phô – Phó Trưởng phòng Kinh tế thị xã Hội An, cho biết: “Sau chiến tranh, mộc Kim Bồng gần như bị mai một hoàn toàn. Lúc đó, ở Cẩm Kim còn rất ít người đi theo nghề mộc, tiêu biểu lúc này chỉ còn ông Huỳnh Ri. Vậy mà ông Huỳnh Ri cũng đã duy trì được làng nghề cho đến ngày nay”.


Ông Huỳnh Ri với bằng khen của UNESSCO

Ngày nay, khi nói đến mộc Kim Bồng, người ta nhắc ngay đến ông Huỳnh Ri và cơ sở sản xuất của ông. Huỳnh Ri là truyền nhân đời thứ 12 của mộc Kim Bồng, và cũng chính ông là người cuối cùng còn lưu giữ lại vốn nghề truyền thống của làng Kim Bồng sau khi chiến tranh kết thúc. Ông nói: “Tôi nghĩ rằng tôi phải có trách nhiệm giữ gìn, nối nghiệp ông cha đã để lại. Lúc đó, tôi gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu vẫn là kinh tế, rứa mà đến chừ thì tôi cũng đã có xưởng riêng, có nguồn nhân công đầy đủ, và cũng đã có những đơn đặt hàng ở nước ngoài. Dù đầu ra cho sản phẩm của tôi chưa cố định nhưng vẫn đã sáng sủa hơn so với mười mấy năm về trước. Tôi mong rằng nhà nước sẽ tiếp tục đầu tư, quan tâm hơn nữa, đặc biệt là giúp chúng tôi tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm để mộc Kim Bồng ngày càng phát triển”.

Làng mộc Kim Bồn - Cơ hội phát triển mới

Năm 1996, UBND thị xã Hội An đưa ra kế hoạch khôi phục lại những làng nghề truyền thống ở đây, trong đó có mộc Kim Bồng. Trong năm 1996, thị xã kết hợp với trung tâm dạy nghề Quảng Nam mở lớp dạy nghề mộc tại xã Cẩm Kim do ông Huỳnh Ri phụ trách. Đến nay, tại Cẩm Kim đang chuẩn bị kết thúc khóa học thứ III. Đến năm 2003, khi Chính phủ có mục tiêu chung cho việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống thì những kế hoạch khôi phục của thị xã đi vào thực tiễn. Tổng số vốn đầu tư vào việc khôi phục và phát triển mộc Kim Bồng là 9,3 tỉ đồng, trong đó của nhà nước là 5 tỉ đồng, còn lại là do nhân dân tại đây đóng góp.

Đầu năm 2005, UBND tỉnh Quảng Nam đề nghị lên chính phủ cấp chứng nhận nghệ nhân nhân dân cho ông Huỳnh Ri và nghệ nhân ưu tú cho ông Huỳnh Sử. Năm 2006, UBND thị xã Hội An cũng đã tổ chức đăng ký lại thương hiệu cho mộc Kim Bồng đó là “Mộc Kim Bồng – Hội An”. Đồng thời, UBND Thị xã Hội An cũng kết hợp với các trung tâm lữ hành tổ chức các tour du lịch đến Cẩm Kim để mang khách đến với Kim Bồng. Hiện nay, lượng khách đến Cẩm Kim chiếm khoảng 7% – 8% lượng khách đến Hội An. Đây là cơ hội để Kim Bồng phát triển.


Ông Huỳnh Ri truyền nghề cho học trò của mình

Tuy nhiên, việc tìm đầu ra cho những sản phẩm mộc Kim Bồng vẫn đang gặp nhiều khó khăn, sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ cho nhu cầu du lịch. Các sản phẩm điêu khắc chạm trổ hay mộc gia dụng chủ yếu vẫn chỉ bán được dựa trên các đơn đặt hàng của khách du lịch. Trong khi đó, ông Đỗ Đình Phô – Phó Trưởng phòng Kinh tế thị xã Hội An, thì cho rằng: “Chúng tôi đã có nhiều kế hoạch đầu tư cho mộc Kim Bồng, việc định hướng cho mộc Kim Bồng cũng đã được chúng tôi làm tốt, việc thực thi nó như thế nào là việc của người dân, chúng tôi không thể cầm tay chỉ việc được, do đó việc tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm vẫn là việc của họ”.

Làng Triêm Tây

đăng 23:46, 3 thg 5, 2012 bởi Du Lich Da Nang   [ cập nhật 23:32, 21 thg 6, 2017 bởi Vinh Cong ]

Làng Triêm Tây thuộc xã Điện Phương, Thị Xã Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam nằm sát với thành phố Hội An nên nhiều người nhầm là Làng Triêm Tây thuộc Hội An, Triêm Tây là một ngôi làng vừa thanh bình vừa tươi đẹp, làng Triêm Tây mang một nét đặc trưng của vùng nông thôn xứ Quảng nằm bên dòng sông Thu Bồn được bao bọc bởi những rặng tre xanh mướt nên quanh năm mát mẻ

lang triem tay
Làng Triêm Tây rợp bóng tre xanh mát mẻ

Cách đây những năm về trước, hơn 100 hộ dân cư đang sinh sống tại đây phải tính bỏ làng vì do bờ sông sạt lở nhiều và nhanh. Cũng vì lý do đó mà suốt nhiều năm, Triêm Tây được nhiều người gọi là “làng lở”.

Cho đến năm 2013, một công ty du lịch tại TP.Hội An vào “làng lở” bỏ vốn đầu tư xây dựng bờ kè để cứu ngôi làng đồng thời phát triển nơi đây thành một khu nhà vườn với cảnh quan rất đẹp.

Cách di chuyển đến Làng Triêm Tây

Tôi đã có cơ hội đến đây 2 lần. Lần đầu đi bằng đường thủy, bắt đầu từ bến cá Hội An.

Để tạo cảm giác lạ, lần thứ 2, tôi đi bằng xe máy từ thị trấn Nam Phước đến xã Duy Vinh (H.Duy Xuyên) về Cẩm Kim (Hội An) để đến ngôi làng.

Nếu “lụy đò”, du khách sẽ mất khoảng 15 phút. Dọc đường đi, khách sẽ không khỏi ngạc nhiên trước vẻ đẹp của sông nước, về cuộc sống mưu sinh đò dọc đò ngang của cư dân hai bên bờ sông.

Còn đi bằng đường bộ sẽ mất nhiều thời gian hơn vì đường khá vòng vèo. Nhưng quãng đường khá xa về Triêm Tây như ngắn lại bởi du khách sẽ được chiêm ngưỡng những cánh đồng thơm nức lúa chín, qua những ruộng cói và những ngôi làng dệt chiếu trứ danh xứ Quảng.

Dù đi bằng cách nào thì đó cũng là một lần trải nghiệm đáng nhớ về cuộc sống vùng nông thôn yên bình và hiền hòa.

Bạn sẽ không thấy xa ngái và tiếc thời gian đi đường khi được đặt chân đến chốn “bồng lai tiên cảnh”, được ngắm và thả mình vào cảnh quê xanh mướt.

Không những vậy, du khách đến đây sẽ được sống chung với những người nông dân thuần hậu theo mô hình homestay.

Nếu cảm thấy mệt, bạn có thể đăng ký ở lại ngôi làng trong những khu lưu trú, nhà nghỉ bằng tre (rộng 3,6 m, dài 4,8 m) không kém phần tiện nghi và sang trọng.

Chiều trong làng Triêm Tây đẹp đến nao lòng khi ánh sáng cuối ngày nhẹ nhàng chiếu xuống dòng Thu Bồn, hắt vào những rặng tre nằm bên hồ bơi xanh ngắt.

Nắng tắt cũng là khi tiếng dế, tiếng nhái bén thi nhau gọi đêm thanh tịnh… đang xuống.

Làng Triêm Tây


Màu xanh tươi mát có thể gặp ở bất cứ đâu khi đi dạo khắp làng




Làng Triêm Tây nhìn ra bờ sông Thu Bồn với hệ thống nhà nghỉ và bể bơi độc đáo



Quanh co đường làng



Bể bơi lẩn khuất sau những rặng tre, phù hợp để trốn nắng hè



Thi thoảng những gánh hàng quê đến cạnh làng sẽ làm du khách ấm lòng



Chiều về trên làng Triêm Tây đẹp như tranh vẽ

Tượng Đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng

đăng 06:51, 21 thg 4, 2012 bởi Du Lich Da Nang   [ cập nhật 01:13, 19 thg 6, 2017 bởi Vinh Cong ]

Sau gần 7 năm thi công, tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam đã hoàn thành và khánh thành vào ngày 24/3/2015 - kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng tỉnh Quảng Nam và có thể trở thành tượng đài lớn nhất Đông Nam Á với kinh phí xây dựng lên đến 411 tỷ đồng (trong đó ngân sách Trung Ương là 250 tỷ, ngân sách tỉnh là 150 tỷ và phần còn lại là do nhân dân đống góp.



Bản phối cảnh tổng thể tượng đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng


Tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng lấy nguyên mẫu mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ tại xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam làm biểu tượng cho gần 50 ngàn bà mẹ Việt Nam anh hùng của cả nước. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, mẹ Thứ có chín người con ruột, một cháu ngoại, một con rể đã cầm súng chiến đấu hy sinh cho độc lập tự do của Tổ quốc.






Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng làm bằng chất liệu đá sa thạch, được Hội đồng Nghệ thuật chọn từ phác thảo của họa sĩ Đinh Gia Thắng và kiến trúc sư Nguyễn Luận. Quần thể tượng đài tọa lạc trên đỉnh núi Cấm, thôn Phú Thạch, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, với tổng diện tích 150.000m².




Từ ý tưởng: “Mẹ là suối nguồn bao la vô tận, Mẹ là linh hồn của Đất nước. Mẹ sinh ra từ mảnh đất anh hùng, sinh ra những người con anh hùng và sẽ lại hoá thân vào đất, vào non nước Việt Nam. Mẹ sẽ sống mãi ngàn đời với các thế hệ con cháu hôm nay và mai sau. Mẹ vẫn tiếp thêm nguồn sức sống mạnh mẽ cho các thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam vững chắc, giàu mạnh" tác giả Đinh Gia Thắng đã xây dựng Tượng đài về Mẹ là trung tâm của quần thể ở vị trí có cao độ là 15.0m (so với mực nước biển) với chiều cao của tượng là: 18.37m, chiều rộng: theo đường thẳng: 84.7m, đường cong: 117m, bề dày khối tượng chỗ lớn nhất là 24.3m, chỗ mỏng nhất ở 2 đầu vách đá là 8.0m.




Khối tượng đài chính gắn kết với một hồ nước lớn: Khoảng 981m2 (có hình dáng hồ bán nguyệt). Toàn khối tượng đài có hình dáng của một ngọn núi nhô cao ở giữa và thoải dần ở hai bên. Hai bên khối tượng mẹ là hai vách đá được tạo hình giống như những khối đá tự nhiên kết nối liên tục với nhau, nhưng được cách điệu khéo léo bằng những hình khối đa dạng, đa chiều theo một nhịp điệu uyển chuyển nhưng khúc triết mạch lạc, với các cung bậc của tiết tấu và giai điệu từ thấp đến cao, như một bản giao hưởng hùng tráng, được biểu đạt bằng ngôn ngữ điêu khắc đá. Hai bên vách đá thể hiện gương mặt những người con thấp thoáng theo phương pháp nghệ thuật gợi tả, chấm phá để làm tôn vinh thêm hình tượng bà mẹ và gợi mở cho người xem nhiều suy tưởng sâu sắc, đẹp đẽ về mẹ, về đất nước, về con người Việt Nam cả trong quá khứ, hiện tại, tương lai. Hình tượng này cũng gợi cho ta hình ảnh hoành tráng về một đất nước hoà bình thống nhất, các con cháu mọi miền Bắc- Trung- Nam sum vầy quanh mẹ hiền Tổ quốc, luôn hướng về mẹ với tình cảm trìu mến, thương yêu nhất.

Sự kết hợp giữa tượng đài chính với hồ nước lớn, tạo nên một hình ảnh hoà quyện của Sơn- Thủy. Những làn nước trong vắt chảy lặng lẽ từ các vách đá xung quanh thân mẹ xuống các tầng hồ thể hiện sự hiến dâng âm thầm của mẹ hiền đối với các con, đối với Tổ quốc. Tình cảm đó như bát nước đầy không bao giờ vơi cạn.

Hai bên tượng đài là hai thảm hoa lớn với diện tích 600m2 được trang trí với nhiều hoạ tiết, với sắc thái của 54 dân tộc Việt Nam, tượng trưng cho những cánh hoa của các con thuộc 54 dân tộc Việt Nam dâng lên Mẹ.

Bên trong tượng đài là Bảo tàng Mẹ Việt Nam Anh hùng, có tổng diện tích 950m2. Đây là nơi ghi danh gần 50 ngàn bà mẹ Việt Nam anh hùng của cả nước và lưu giữ những ảnh tư liệu về những bà mẹ Việt Nam anh hùng, hình ảnh về những người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Bên cạnh những hình ảnh tư liệu đó là hiện vật gắn liền với đời sống, gắn liền với những câu chuyện, kỳ tích của những bà mẹ và những người phụ nữ Việt Nam anh hùng. Hình ảnh của những người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu cho 54 dân tộc Việt Nam được thể hiện qua các tác phẩm hội hoạ, phù điêu, ảnh nghệ thuật.

Hệ thống không gian công viên tượng đài được tổ chức theo hình thức không gian nghi lễ truyền thống: Có quảng trường - cổng - đường dẫn chính - sân hành lễ - đài và hậu đài. Hai bên là các vườn, đường dẫn chính có các bậc cấp cao dần từ cổng đến đài theo trình tự như sau:

-Tiếp cận công viên tượng đài " Mẹ Việt Nam anh hùng " là một quảng trường tiền môn. Đây là nơi đón tiếp du khách trong dịp lễ hội hay thường nhật đến thăm quan tìm hiểu về Mẹ anh hùng, có 30 ô thảm cỏ tượng trưng cho 30 năm kháng chiến trường kỳ giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc của nhân dân ta.

- Tiếp theo quảng trường là 8 trụ biểu chia làm hai bên, mỗi trụ có chiều cao 9m, đường kính 1.65m, con số 8 ở đây theo quan niệm của người phương Đông là con số biểu tượng cho sự phồn vinh, sự sung túc, sự đoàn tụ tốt đẹp. Các trụ biểu này khắc chạm các huyền thoại về Mẹ anh hùng, những hình ảnh về các bà mẹ Bắc Bộ, bà mẹ Trung Bộ, bà mẹ Nam Bộ, bà mẹ Tây Nguyên. Huyền thoại về những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Đan xen với những biểu tượng đó là những chạm khắc huyền thoại về suối nguồn, huyền thoại về lời ru của mẹ phảng phất câu dân ca Bắc bộ, điệu hò Trung bộ, điệu lý Nam bộ cùng với những nét văn hoá đặc trưng của vùng miền.




Tám trụ biểu như là "Cổng ảo" cho công viên tượng đài



-Phía sau Tám trụ biểu là hai hồ lớn tượng trưng bằng hai thảm hoa với màu sắc đan xen tạo cảm giác nước chảy. Hai hồ nước là nơi hội tụ của " suối nguồn " như muốn nói lên ý nghĩa sâu nặng từ trong câu ca dao Việt Nam: "Cha mẹ thương con biển hồ lai láng" .

- Tiếp theo là đường dẫn chính dài 200m, được phân thành 4 đợt cấp với các bậc thang: Gồm 5+5+8+ 9 bậc, tạo sự tôn vinh khối Tượng mẹ. Hai bên đường dẫn chính là 2 suối nước, cũng tượng trưng bằng thảm hoa, được trồng đan xen màu sắc và cách điệu như nước chảy: Dài 150m, rộng 3.6m. Dòng nước trong xanh chảy mãi như " suối nguồn vô tận " . Dọc theo suối nước hai bên đường dẫn chính là 30 ngọn đèn bằng đá, tượng trưng cho 30 năm mẹ đợi ngày đất nước hoà bình, thống nhất, 30 năm mẹ đón chờ các con cháu Bắc - Trung - Nam về sum họp một nhà. Ở cao độ + 12,150m hai bên có hai thác nước cao từ 2,4m đến 3m đổ xuống, tượng trưng bằng thảm hoa đan xen màu sắc, tạo cảm giác như thác nước, khởi nguồn cho dòng nước động như sức sống mãnh liệt của đất nước, của thế hệ con cháu luôn được mẹ tiếp thêm nguồn sức mạnh vô biên.




30 ngọn đèn bằng đá, tượng trưng cho 30 năm mẹ đợi ngày đất nước hoà bình, thống nhất



- Hai bên đường dẫn chính là hai khu vườn truyền thống và hiện đại :Thể hiện sự giao hoà giữa bản sắc văn hoá dân tộc với xu thế hiện đại trong tương lai. Là sự hoà nhập tình cảm giữa thế hệ đi trước với thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Ở các vườn hiện đại, chủ yếu là các thảm cỏ rộng, điểm xuyết các cây trồng địa phương.

-Trên các thảm cỏ có các phiến đá trắng nổi lên, trên các phiến đá có khắc các vần thơ hay về mẹ. Trước khi đến với tượng đài ta bắt gặp câu thơ " Con ơi lòng mẹ như sông cả, chảy mãi nào ai lấp được nguồn" . Chắc sẽ cho ta cảm nhận sâu sắc hơn cái lớn lao vô hạn của tình mẫu tử. Ngôn ngữ giúp tình cảm đi sâu hơn, trực tiếp hơn và lắng đọng hơn. Ngôn ngữ giúp cho hình tượng tạo hình đến với lòng người sâu sắc hơn.

- Ở vườn truyền thống là các dòng suối nhỏ, cây cảnh, cầu đá, bờ ao, các chòi nghỉ và các trường lang. Các chòi nghỉ và trường lang vừa để che nắng, vừa để khuôn định hình thức vuông, tròn của không gian vườn trong không gian tự nhiên và thoáng mở. Một mai, khi có điều kiện, các trường lang sẽ là nơi trưng bày các tác phẩm hội hoạ và phù điêu về Mẹ, như một ước định nữa về cái đẹp của Mẹ.

- Cuối đường dẫn chính là quảng trường nghi lễ, nơi có thể tổ chức các lễ, các hội để tưởng nhớ và tôn vinh Mẹ.

- Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng là trung tâm của tổ hợp không gian.

- Phía sau tượng đài là một vườn đá. Những tảng đá lớn có khắc những bài thơ về mẹ như một vần kết về khúc tráng ca Mẹ anh hùng. Hình tượng tạo hình, hình thức không gian kiến trúc và hình ảnh cảnh quan được khép lại với ngôn ngữ thơ ca làm cho ta ngập trong một tổng hoà nghệ thuật ngợi ca về Mẹ Việt Nam anh hùng. Lòng ai không lắng đọng, buâng khuâng và da diết với một tình yêu Mẹ khi đã đến đây.









---------------------------------







Toàn cảnh khu tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng tại Tam Kỳ




Không gian khu tượng mẹ Việt Nam anh hùng được chụp từ trên cao









Những ngày này, hàng trăm công nhân đang gấp rút hoàn thành các hạng mục còn lại. Trong đợt kỷ niệm 40 năm giải phóng, tỉnh Quảng Nam còn làm lễ khánh thành các công trình khác như Quảng trường 24/3, cầu Kỳ Phú 1 và cầu Kỳ Phú 2, nhà khách Quảng Nam.





Trong khuôn viên có 12 ngôi nhà chờ được xây dựng trong khuôn viên là nơi du khách nghỉ chân.




Hàng nghìn lượt du khách đến tham quan tượng đài mỗi ngày và chụp ảnh lưu niệm tại đây

1-10 of 13